CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐOÀN KẾT - KỶ CƯƠNG - SÁNG TẠO
VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Kính gửi: Công ty TNHH MTV TM-XNK Việt Đạt.
(Địa chỉ: 21-23 Dương Đức Hiền, Phường Tây Thạnh, Quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh)

 

Phúc đáp công văn số 0925/CV/VĐ-2017 ngày 25/9/2017 của Công ty TNHH MTV TM-XNK Việt Đạt (MST: 0311254180) về việc đề nghị hướng dẫn mã số mặt hàng bảng kẽm, dung dịch rửa máy tráng kẽm, dung dịch hiện hình ảnh, về việc này Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh hướng dẫn như sau:

I. Hướng dẫn về phân loại, áp mã số hàng hóa:

Căn cứ Điều 26 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2015 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Khi phân loại hàng hóa phải căn cứ hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để xác định tên gọi, mã số của hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam”;

Căn cứ tại khoản 2, điều 16 Nghị Định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định: “Việc phân loại hàng hóa căn cứ vào hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin về thành phần, tính chất lý, hóa, tính năng, công dụng của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”; Thông tư số 14/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phân loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa, phân tích để kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số 103/2015/TT-BTC ngày 01/7/2015; Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 về việc ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan.

Do doanh nghiệp cung cấp không đầy đủ thông tin cụ thể theo quy định nêu trên nên cơ quan hải quan chưa có đủ cơ sở để hướng dẫn phân loại, áp mã số hàng hóa chính xác. Đề nghị Công ty nghiên cứu các nội dung của các nhóm hàng hóa sau để áp mã số phù hợp.

1/ Mặt hàng Bảng kẽm:

Căn cứ nội dung Chú giải 2 Chương 37:

“2. Trong chương này từ tạo ảnh liên quan đến quá trình tạo các ảnh có thể nhìn thấy được, bằng cách chiếu tia sáng hoặc bằng tác động các dạng tia phát xạ khác lên bề mặt nhạy sáng trực tiếp hay gián tiếp.

Tổng quát

Các tấm phim, giấy, bìa và vật liệu dệt để tạo ảnh thuộc Chương 37 là những thứ có một hay nhiều lớp nhũ nhạy đối với ánh sáng hoặc các dạng phóng xạ khác có đủ năng lượng để gây ra phản ứng cần thiết đối với nguyên liệu nhậy sóng photon (hoặc photo), như phóng xạ của bước sóng dài tối đa là khoảng 1.300 nanometer trong quang phổ điện từ (kể cả tia gamma, tia X quang, tia cực tím và bức xạ hồng ngoại gần), cũng như phóng xạ từng phần (hay hạt nhân), được dùng cho phiên bản đơn sắc hoặc cho phiên bản mầu. Tuy nhiên, một số loại tấm kính ảnh/tấm kẽm chụp ảnh chưa được tráng lớp nhũ nhưng chúng lại bao gồm toàn bộ hay về cơ bản là chất nhựa cảm quang có thể được thêm vào để làm tăng hiệu quả hỗ trợ.

Lớp nhũ cơ bản nhất có thành phần chủ yếu là bạc halôgen (như bạc brômua, bạc iôt-brômua, vv...) hoặc muối của các kim loại quý, nhưng các nguyên liệu khác có thể được sử dụng, như ferricyanide kali, hợp chất sắt dùng cho vẽ thiết kế, kali hoặc dichromate ammonium dùng cho bản khắc thiết bị chụp ảnh, muối diazonium dùng cho nhũ diazo vv...

(A) Các tấm kính ảnh và phim ảnh xếp vào Chương này khi:

(1) Chưa phơi sáng, như chưa chịu sự tác động ánh sáng hoặc các dạng phóng xạ khác.

(2) Đã phơi sáng, đã hoặc chưa được tráng (như là xử lý hóa học để tạo ra hình ảnh rõ nét).

Căn cứ nội dung của nhóm 37.01: Các tấm và phim để tạo ảnh ở dạng phẳng, có phủ lớp chất nhạy, chưa phơi sáng, bằng vật liệu bất kỳ trừ giấy, bìa hoặc vật liệu dệt; phim in ngay dạng phẳng, có phủ lớp chất nhạy, chưa phơi sáng, đã hoặc chưa đóng gói

Nhóm này bao gồm:

(A) Các tấm tạo ảnh và phim ở dạng phẳng, bằng vật liệu bất kỳ trừ giấy, bìa hoặc vật liệu dệt.

Các tấm ảnh và phim ảnh ở dạng phẳng (nghĩa là không ở dạng cuộn), bao gồm cả phim được cuộn dạng hình đĩa chưa được phơi sáng và thường được phủ một lớp chất nhũ nhạy tạo ảnh. Chúng cổ thể được làm từ một nguyên liệu bất kỳ trừ giấy (ví dụ: giấy tấm được dùng để tạo ra âm bản), bìa hoặc vật liệu dệt (nhóm 37.03). Những vật liệu thường được sử dụng là thủy tinh, axêtat cellulose, poly (ethylene terephthlate), plastics khác (dừng cho phim nguyên gói hoặc phim đã cắt), kim loại hoặc đá (cho các quá trình quang cơ). Một số tấm kính ảnh, khi được phơi sáng hoặc xử lý sẽ được dùng cho in, không được phủ lớp nhũ nhưng được làm toàn bộ hoặc cơ bản từ nhựa nhạy ảnh. Chúng có thể được thêm vào như là chất hỗ trợ kim loại hoặc vật liệu khác. Một số kính ảnh này phải được tăng độ nhậy sáng trước khi phơi sáng.

Những mặt hàng này được dùng cho các mục đích sau:

(1) Các tấm ảnh, cắt phim và gói phim dùng cho chuyên nghiệp và nghiệp dư.

(2) Các tấm xử lý máy ảnh dàng để in bản khắc ảnh, in ảnh lithô, vv...

(B) Phim in ngay dạng phẳng;

Loại này cũng được phủ một lớp chất nhạy, chưa được phơi sáng và ở dạng phẳng. Phim in ngay gồm có một mặt nhạy sáng của vật liệu bất kỳ (âm bản), một mặt là giấy được xử lý đặc biệt (dương bản), và một lớp thuốc tráng phim, dùng để tạo ra ngay một tấm ảnh dương bản hoàn thiện. Phim in ngay có thể được đóng trong gói (cuộn phim ảnh hoặc hộp đựng một số tấm phim in ngay) được thiết kế để lắp trực tiếp vào mấy chụp ảnh, hoặc hộp có chứa nhiều tấm riêng biệt có thể sử dụng.

Tuy nhiên, phim in ngay dạng cuộn, đã được phủ lớp chất nhạy, chưa phơi sáng không bao gồm trong nhóm này (nhóm 37.02).

2/ Mặt hàng dung dịch hiện hình ảnh:

Căn cứ nội dung nhóm 37.07: “chế phẩm hóa chất để tạo ảnh (trừ vecni, keo hồ, chất kết dính và các chế phẩm tương tự); các sản phẩm chưa pha trộn dùng để tạo ảnh, đã đóng gói theo định lượng hoặc đóng gói bán lẻ ở dạng sử dụng được ngay”

Nhóm này bao gồm các chất được dùng trực tiếp trong việc tạo ra hình ảnh. Các sản phẩm đó bao gồm:

(1) Nhũ tương.

(2) Thuốc tráng phim giúp nhìn thấy những hình ảnh ẩn (ví dụ, hydroquinone, catechol, parogallol, phenidone, p-N-methylaminophenolsulphate và các chất dẫn xuất của chúng). Nhóm này cũng bao gồm thuốc tráng phim dùng cho sao chụp tài liệu tĩnh điện.

(3) Chất hãm ảnh để tạo ra những hình ảnh cố định đã được tráng (ví dụ, thiosulphate natri (hypo), metabisulphite natri, thiosulphat ammonium, thiocyanate ammoni hoặc natri hoặc kali thiocyanat).

(4) Chất tăng cường và chất làm giảm để làm tăng hoặc giảm cường độ của hình ảnh (ví dụ, kali dicromat, amoni persulphat).

3/ Mặt hàng keo dùng trong ngành in, dung dịch rửa máy tráng kẽm:

Do doanh nghiệp cung cấp không đủ thông tin cụ thể theo quy định nêu trên nên cơ quan hải quan không có đủ cơ sở để hướng dẫn phân loại, áp mã số hàng hóa chính xác.

Để có cơ sở khai báo hải quan, đề nghị công ty căn cứ hàng hóa thực tế nhập khẩu, nghiên cứu các quy định về phân loại hàng hóa nêu trên: căn cứ hồ sơ, tài liệu kỹ thuật, căn cứ vào tính chất lý hóa, tính năng, công dụng của hàng hóa và các thông tin khác có liên quan đến hàng hóa nhập khẩu, liên hệ trực tiếp với Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục để được hướng dẫn cụ thể và xác định mã số phù hợp.

II. Hướng dẫn xác định trước mã số:

Để thuận lợi trong quá trình làm thủ tục hải quan, làm cơ sở để khai báo chính xác mã số hàng hóa, doanh nghiệp có thể thực hiện quy trình xác định trước mã số như sau:

- Thủ tục và điều kiện xác định trước mã số quy định tại Điều 23, Điều 24 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ.

- Hồ sơ xác định trước quy định tại Điều 7 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính.

Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh trả lời để Công ty được biết./.

3460/HQHCM-TXNK
V/v hướng dẫn phân loại bảng kẽm dùng trong công nghiệp in
09/11/2017
09/11/2017
Còn hiệu lực
Công văn
Phân tích phân loại
Cục Hải quan Tp.HCM
Hoàng Thị Xuân Hoa